Tình hình KT-XH tỉnh Hà Giang 9 tháng năm 2018

  • Bài viết
  • Tình hình KT-XH tỉnh Hà Giang 9 tháng năm 2018
Ngày đăng: 12/10/2018, 09:32 am
Lượt xem: 133

Tình hình KT-XH tỉnh Hà Giang 9 tháng năm 2018
1. Sản xuất Nông lâm nghiệp, phát triển nông thôn

- Trồng trọt: Đã hướng dẫn các địa phương về khung thời vụ sản xuất; khuyến khích sử dụng giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao; theo dõi sát sao diễn biến thời tiết, kịp thời chỉ đạo chuyển đổi các loại cây trồng phù hợp. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước 175.229 ha, giảm 2.198 ha so với năm 2017. Tuy diện tích gieo trồng giảm so với năm 2017 nhưng tổng sản lượng lương thực cả năm ước đạt 403.322,5 tấn, tăng 1,3%, tương đương 5.490,5 tấn. Trong đó, sản lượng lúa  212.388,5 tấn, tăng 0,4%, bằng 1.037,5 tấn; sản lượng ngô 190.589,2 tấn, tăng 2,4%, bằng 4.537,2 tấn. Các địa phương đã linh hoạt trong chuyển đổi diện tích cây trồng và tiếp tục triển khai chương trình cánh đồng mẫu theo phương pháp “5 cùng” trên các cây trồng chính với tổng diện tích 3.283,4 ha/448 cánh đồng. Chương trình đầu tư có thu hồi tiếp tục được triển khai trên địa bàn 9 huyện, thành phố; trong 9 tháng đã thực hiện cho gần 2.000 hộ vay vốn mua vật tư phân bón, giống phục vụ sản xuất với số tiền 7,86 tỷ đồng; lũy kế đến nay đã cho vay 46,2 tỷ đồng/8.395 hộ, đã thu hồi được 22,3 tỷ đồng để tái đầu tư.

- Chăn nuôi: Tiếp tục triển khai Kế hoạch phát triển tổng thể gia trại chăn nuôi lợn và gia cầm, đến nay đã phát triển được 371 gia trại, trang trại, chủ yếu là các giống địa phương. Triển khai chương trình thụ tinh nhân tạo cho đàn gia súc để gia tăng tổng đàn và cải tạo chất lượng, tầm vóc đàn gia súc trên 3.000 con (trâu 395 con, bò 2.605 con), thành công 2.114 con, đạt tỷ lệ 70,4%. Công tác phòng chống dịch bệnh, phòng chống đói rét cho đàn gia súc, gia cầm được chủ động hơn, do đó, trong 9 tháng không xuất hiện dịch bệnh lớn.

- Lâm nghiệp: Trong 9 tháng đầu năm đã trồng được 6.217,7 ha, trong đó: Trồng rừng theo kế hoạch 812,8 ha, đạt 94,4% kế hoạch; trồng rừng sau khai thác 2.804,7 ha; trồng rừng thay thế 5,2 ha; dân tự trồng 2.505 ha; trồng rừng giống 30 ha). Công tác chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng đạt 100% kế hoạch. Công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng được tăng cường; tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng khô hanh kéo dài đã xảy ra 02 vụ cháy trảng cỏ và cây bụi làm thiệt hại 0,82 ha. Công tác quản lý lâm sản tiếp tục được thắt chặt, đã phát hiện 241 vụ, giảm 10 vụ so với năm 2017, xử lý vi phạm 233 vụ, tịch thu 111,6 m3 gỗ các loại, xử phạt hành chính 1,38 tỷ đồng.

- Kết quả thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp: Đẩy mạnh tìm kiếm, kết nối thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh; đến nay, một số sản phẩm như cam, chè, dược liệu bước đầu đã có thị trường tiêu thụ ổn định. Trên địa bàn tỉnh hiện có 04 sản phẩm được cấp chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lí, đang tiến hành xây dựng chỉ dẫn địa lí 03 sản phẩm khác. Sản phẩm cam sành và mật ong bạc hà đã có tem truy xuất nguồn gốc. Năm 2018 tiếp tục triển khai tiêu chuẩn VietGAP trên 771,6 ha cam và tiêu chuẩn GAP trên 2.713,2 ha chè; đến nay toàn tỉnh có 2.776 ha cam được cấp chứng nhận VietGAP (chiếm 55,5% diện tích cam cho sản phẩm), 7.153 ha chè được cấp chứng nhận GAP (chiếm 37,9% diện tích chè cho thu hoạch). Thực hiện Kế hoạch phát triển rau hoa ứng dụng công nghệ cao trên 20,21 ha/63 nhà lưới, trong đó diện tích rau được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP hiện nay là 3,6 ha. Tổ chức 26 lớp tập huấn về sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn cho 1.755 lượt người, thành lập được 21 cơ sở chè, cam VietGAP. Tiếp tục trồng mới được 867 ha cây dược liệu, duy trì chăm sóc 5.842 ha cây đã trồng. Phát huy thành công và tổ chức nhân rộng mô hình sản xuất, tiêu thụ nông sản an toàn trên địa bàn các huyện, thành phố; đã hướng dẫn 03 cơ sở xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, dự kiến cấp xác nhận trong quý IV/2018. Đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ cơ giới hóa bình quân hiện nay đạt 34% so với tổng diện tích canh tác.

- Kết quả triển khai các chương trình phát triển nông thôn: Thực hiện Kế hoạch “mỗi huyện 1 xã, mỗi xã 1 thôn” điển hình về phát triển kinh tế nông nghiệp trên 27 xã với 206 thôn thuộc 11 huyện, thành phố; các xã, thôn bước đầu đã xác định được thế mạnh của từng địa phương để tập trung đẩy mạnh. Tổ chức Hội nghị triển khai Đề án mỗi xã một sản phẩm tỉnh Hà Giang giai đoạn 2018 – 2020, định hướng đến năm 2030; thực hiện triển khai thí điểm Đề án tại huyện Quản Bạ, đến nay đã có 27 chủ thể (16 HTX, 01 THT, 10 hộ dân) đăng ký tham gia chương trình với 35 sản phẩm. Tiếp tục phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh, 9 tháng đầu năm đã công nhận được 02 làng nghề, lũy kế hiện có 39 làng ngh.

- Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai quyết liệt với trọng tâm là cải thiện thu nhập của người dân và đầu tư hạ tầng giao thông. Đã thực hiện mở mới, nâng cấp, làm mới 857,6 km đường giao thông các loại; nâng cấp 94 phòng học; xây mới 81 nhà văn hóa thôn; nhân dân hiến 210,8 nghìn m2 đất, đóng góp 197,4 nghìn ngày công lao động. Triển khai Đề án 114 được 4.513 tấn xi măng; lũy kế từ khi thực hiện đề án đã triển khai được 22,87 tấn. Hiện nay, toàn tỉnh có 23 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 01 xã đạt từ 15-18 tiêu chí; 27 xã đạt từ 10-14 tiêu chí; 126 xã đạt từ 5-9 tiêu chí. Các xã đăng ký đạt chuẩn năm 2018 đang khẩn trương hoàn thành các tiêu chí để tổ chức công nhận, dự kiến đến hết tháng 12 sẽ hoàn thành 11 xã.

2. Sản xuất công nghiệp

- Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực; chỉ số sản xuất ngành công nghiệp 9 tháng tăng 17,15% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh đạt 2.663,7 tỷ đồng, tăng 18 % so với cùng kỳ; theo giá thực tế ước đạt 4.351,5 tỷ đồng, đạt 86,6% kế hoạch và tăng 20,1%. Một số sản phẩm chủ yếu có mức tăng trưởng khá như: Quặng sắt và tinh quặng sắt tăng 138,2% so với cùng kỳ; bột giấy tăng 94,0%; lắp ráp ô tô tăng 75,36%; điện sản xuất tăng 13,15%... Kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình thủy điện Sông Lô 2 và Sông Lô 6 vào sử dụng. Ban hành Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về thủy điện trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Tiếp tục triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển công nghệ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản tỉnh Hà Giang.

3. Đầu tư,  xây dựng

- Công tác quản lý về đầu tư xây dựng được đẩy mạnh; tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm như: Dự án Tu bổ, mở rộng, quy tập Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (giai đoạn 1); dự án Xây dựng khu xử lý rác thải hợp vệ sinh tỉnh Hà Giang; dự án Đường ra biên giới từ xã Thanh Vân đi Bát Đại Sơn (Mốc 338), huyện Quản Bạ; các công trình Kiên cố hóa trường lớp học mầm non, tiểu học… Tích cực vận động trung ương và chuẩn bị các điều kiện để xây dựng đường cao tốc nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đến nay đã được Bộ Giao thông vận tải đưa vào quy hoạch phát triển đường cao tốc đến năm 2030. Giá trị sản xuất xây dựng 9 tháng đầu năm 3.952,4 tỷ đồng, tăng 9,24% so với cùng kỳ

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện ước đạt 5.519  tỷ đồng, tăng 5,06% so với cùng kỳ 2017, trong đó: nguồn vốn đầu tư thuộc nguồn vốn nhà nước chiếm 27,3%, tăng 28%; nguồn vốn đầu tư thuộc khu vực ngoài nhà nước chiếm 72,7%, giảm 1,6%.

Tổng vốn đầu tư phát triển từ NSNN năm 2018 do địa phương quản lý là 3.414 tỷ đồng; giải ngân 9 tháng đầu năm ước đạt 2.002 tỷ đồng (đạt 59% kế hoạch).

4. Thương mại, dịch vụ và du lịch

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 6.850,9 tỷ đồng, đạt 72,1% kế hoạch và tăng 13,4% so với cùng kỳ. Giá cả hàng hóa trên thị trường nhìn chung ổn định; Chỉ số giá tiêu dùng chung tháng 9/2018 tăng 0,24% so với tháng trước, tăng 3,9% so với cùng kỳ; 9 tháng tăng 2,7% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất nhập khẩu (không bao gồm hàng tạm nhập - tái xuất) đạt 250,4 triệu USD, đạt 33,4% kế hoạch.

- Doanh thu từ hoạt động vận tải đạt 414 tỷ đồng, tăng 12,4% so cùng kỳ. Khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 1,687 triệu tấn, tăng 13,1%; khối lượng hàng hoá luân chuyển đạt 72,4 triệu tấn.km, tăng 14,3%. Khối lượng hành khách vận chuyển đạt 1,862 triệu người, tăng 11,7%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 271,4 triệu người.km, tăng 11,8%. Các dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển, 100% trung tâm các xã, phường, thị trấn, khu vực tập trung đông dân cư có sóng điện thoại, Internet; tổng số thuê bao điện thoại (cố định và di động) đạt trên 560 nghìn thuê bao, mật độ đạt 72,7 thuê bao/100 dân; mật độ internet đạt 10 thuê bao/100 dân; phát triển 1.698 trạm phủ sóng thông tin di động, tăng 184 trạm so với cùng kỳ năm 2017.

- Công tác xúc tiến quảng bá du lịch được tăng cường, đã tổ chức thành công các Hội nghị  “Giới thiệu Hà Giang” với các đối tác nước ngoài tại Hà Nội, hội nghị xúc tiến du lịch “Sắc màu Hà Giang” tại thành phố Cần Thơ. Tổ chức “Không gian trưng bày văn hóa, lịch sử và giới thiệu sản phẩm đặc trưng các dân tộc tỉnh Hà Giang” tại Hà Nội, hội thảo “Liên kết sản phẩm du lịch vùng Bắc Quang – Vị Xuyên – thành phố Hà Giang năm 2018”. Mở rộng hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh trong và ngoài nước, triển khai thực hiện các liên kết phát triển du lịch 6 tỉnh Việt Bắc và chương trình hợp tác 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng; ký kết biên bản hợp tác phát triển du lịch giữa Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch với Ủy ban phát triển du lịch tỉnh Vân Nam tại Thành phố Côn Minh (Trung Quốc). Các hoạt động lễ hội diễn ra sôi nổi, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, chất lượng và số lượng phòng nghỉ của các cơ sở lưu trú được nâng cao, tình hình an ninh trật tự được bảo đảm đã tạo điều kiện thuận lợi để thu hút 924,7 nghìn lượt khách đến với Hà Giang trong 9 tháng năm 2018, tăng 18,1% so với cùng kỳ, đạt 84% kế hoạch, trong đó lượng khách quốc tế đạt 221,3 nghìn lượt. Tổng thu từ khách du lịch đạt 796,6 tỷ đồng.

5. Tài chính, tín dụng

- Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 10.071 tỷ đồng (điều tiết về NSTW 297 tỷ đồng; NS địa phương hưởng 9.774 tỷ đồng).

Về thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: tổng thu 1.290 tỷ đồng, đạt 63,5% kế hoạch năm. Trong đó, thu nội địa 1.155 tỷ đồng, đạt 61,5% kế hoạch; có huyện Yên Minh thu vượt dự toán tỉnh giao (đạt 123,6%); 03 huyện thu đảm bảo tiến độ là Đồng Văn (87,1%), Quản Bạ (81,9%), Mèo Vạc (73,3%); 04 huyện thu đạt từ 60% đến dưới 70% gồm Bắc Quang, Bắc Mê, Xín Mần, Quang Bình; 03 huyện, thành phố còn lại thu đạt thấp dưới 60%.

- Tổng chi ngân sách địa phương 7.963 tỷ đồng, đạt 62% dự toán, trong đó: chi đầu tư phát triển 2.002 tỷ đồng, chi thường xuyên 5.657 tỷ đồng.

- Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng ước đến 30/9/2018 đạt 20.357 tỷ đồng, trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 10.396 tỷ đồng, tăng 17,2% so với cùng kỳ, tương đương 1.524 tỷ đồng; riêng trong 9 tháng đầu năm huy động được 859 tỷ đồng, tỷ lệ tăng trưởng là 9% (kế hoạch cả năm tăng trưởng 13-15%). Tổng đầu tư vốn tín dụng cho nền kinh tế ước đạt 19.672 tỷ đồng, tăng 16,2% so với cùng kỳ, tương đương tăng 2.747 tỷ đồng; 9 tháng đầu năm tăng thêm 1.919 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 10,8%. Dư nợ của một số chương trình tín dụng ước đến 30/09/2018 như sau: Cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP dư nợ 6.337 tỷ đồng, tăng 16,9% so với cùng kỳ; cho vay phát triển nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP dư nợ 8,7 tỷ đồng với 83 khách hàng; cho vay trồng rừng, phát triển chăn nuôi theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP dư nợ 30 tỷ đồng với 386 khách hàng; chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp dư nợ 3.505 tỷ đồng, riêng 9 tháng tăng 1.018 tỷ đồng; chương trình hỗ trợ lãi suất cho vay theo Nghị quyết 209/2015/NQ-HĐND dư nợ 564 tỷ đồng, riêng 9 tháng tăng 139 tỷ đồng; chương trình khởi nghiệp dư nợ 346 tỷ đồng, riêng 9 tháng tăng 54 tỷ đồng; cho vay 14 chương trình tín dụng cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách dư nợ 2.623 tỷ đồng, riêng 9 tháng đầu năm tăng 192 tỷ đồng;…Vốn Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho vay 772,2 tỷ đồng/ 21.892 đối tượng; tổng dư nợ của ngân hàng đạt 2.662,7 tỷ đồng.

- Nợ xấu tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn, ước đến hết tháng 9 nợ xấu chiếm 0,75%/tổng dư nợ.

6. Phát triển khoa học công nghệ; Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

- Triển khai Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đột phá về ứng dụng KH&CN vào sản xuất năm 2018; Kế hoạch xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm đặc sản của tỉnh năm 2018. Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN 34 đề tài, dự án cấp tỉnh và 6 đề tài, dự án thuộc danh mực hợp tác với các cơ quan nghiên cứu trung ương. Tổ chức nghiệm thu 10 đề tài, dự án (trong đó có 02 dự án sở hữu trí tuệ). Hướng dẫn các đơn vị xây dựng một số nhãn hiệu hàng hóa như rượu ngô Mê Cung, chè Chốt, dầu ăn 3H, Trà Tây Côn Lĩnh... Triển khai thực hiện và bàn giao 02 mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại xã Tả Lủng huyện Đồng Văn và xã Linh Hồ huyện Vị Xuyên; duy trì, phát triển mô hình thử nghiệm trồng Dâu tây thương phẩm và mô hình trồng rau hữu cơ tại Quyết Tiến, Quản Bạ...ISO 9001: 2015 vào hoạt động của các UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh.

Phối hợp tổ chức công bố Kết quả Công trình nghiên cứu Đề tài "Chiến lược tái cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn 2030".

- Lĩnh vực quản lý đất đai được tăng cường, đã hoàn thành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) được Chính phủ phê duyệt; hoàn thành lập đề án Tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh; ban hành các kế hoạch định giá đất cụ thể năm 2018 trên địa bàn tỉnh. Triển khai đo đạc lập bản đồ địa chính tại các 5 xã của huyện Mèo Vạc và 6 xã của huyện Hoàng Su Phì. Thẩm định nhu cầu sử dụng đất của 84 hồ sơ, dự án, thông báo địa điểm thu hồi đất cho một nhà đầu tư thuê đất thực hiện dự án tại huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Xín Mần với diện tích 213,67 ha. Ban hành Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Tăng cường kiểm tra hoạt động khoáng sản gây ô nhiễm môi trường; kiểm tra, xử lý các đơn vị lợi dụng việc khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường phục vụ dự án xây dựng nông thôn mới vi phạm quy định pháp luật; kết quả đã đã thu hồi trên 460 ha đất của 02 đơn vị và xử phạt vi phạm hành chính 261 triệu đồng đối với 6 đơn vị.

7. Tình hình phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã và thu hút đầu tư

- Tổ chức Hội nghị gặp mặt – đối thoại doanh nghiệp năm 2018 để kịp thời trao đổi, giải đáp, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp; tổ chức thành công Đại hội Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh lần thứ III, nhiệm kỳ 2018-2020, tại Đại hội đã tổ chức ký cam kết giữa tỉnh với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh trong công tác phát triển kinh tế tư nhân, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và khởi nghiệp. Đẩy mạnh hỗ trợ khởi nghiệp thông qua các hoạt động như thành lập tổ tư vấn khởi nghiệp, tổ chức diễn đàn khởi nghiệp, cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp năm 2018. Kết quả, trong 9 tháng đầu năm có 98 doanh nghiệp và 46 đơn vị trực thuộc thành lập mới; có 42 doanh nghiệp và 02 đơn vị trực thuộc hoạt động trở lại; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động 72, số doanh nghiệp giải thể 9.  Lũy kế toàn tỉnh hiện có 1.795 doanh nghiệp và 565 đơn vị trực thuộc; có 84 doanh nghiệp và 81 đơn vị trực thuộc giải thể; có 227 doanh nghiệp và 22 đơn vị trực thuộc tạm ngừng hoạt động.

- Tiếp tục hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện chuyển đổi, kiện toàn và giải thể theo đúng quy định pháp luật. Các HTX sau khi được củng cố, kiện toàn đã từng bước phát triển, thực hiện đổi mới phương thức quản lý, đẩy mạnh liên doanh, liên kết, tìm kiếm thị trường, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho các thành viên. Trong 9 tháng đầu năm, có 61 HTX thành lập mới; đến nay toàn tỉnh có 621 HTX, trong đó: 304 HTX nông lâm ngư nghiệp, 77 HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, 85 HTX xây dựng, 10 HTX tín dụng, 52 HTX thương mại, 88 HTX giao thông vận tải, 05 HTX loại hình khác.

- Tăng cường các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư; tổ chức các buổi họp tư vấn để hướng dẫn các nhà đầu tư về trình tự thủ tục triển khai dự án; kịp thời cung cấp thông tin và kiến nghị với các bộ, ngành trung ương phương án giải quyết những khó khăn, vướng mắc về thủ tục cho các nhà đầu tư. Phối hợp với các nhà đầu tư thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ triển khai của một số dự án. Thực hiện cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 27 dự án với tổng vốn 1.495,3 tỷ đồng, trong đó: 03 dự án lĩnh vực thủy điện với số vốn 701,8 tỷ đồng; 10 dự án lĩnh vực khoáng sản 50,7 tỷ đồng; 14 dự án thuộc lĩnh vực khác với số vốn 742,8 tỷ đồng. Thực hiện điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 15 dự án.

- Tập trung vận động, thu hút 07 chương trình, dự án nguồn vốn ODA, kết quả: Có 03 dự án đã được ký hiệp định; 4 dự án đã xây dựng đề xuất. Quản lý và sử dụng có hiệu quả 21 chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Kết quả giải ngân đến nay là 324,1 tỷ đồng, đạt 48% (trong đó, vốn ODA 271,8 tỷ đồng, đạt 47%; vốn đối ứng 52,2 tỷ đồng, đạt 50%).  Tổ chức tiếp nhận mới 06 dự án nguồn vốn NGO do Tổ chức LOAN Stiftung (CHLB Đức) tài trợ. Quản lý và tổ chức thực hiện tốt 20 chương trình, dự án nguồn vốn NGO, tổng số tiền viện trợ là 43,86 tỷ đồng.

8. Về phát triển vùng kinh tế động lực

Các sở, ngành và 05 huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên, Bắc Mê và thành phố Hà Giang đã tập trung triển khai Nghị quyết số 05-NQ/TU của Tỉnh ủy và Chương trình số 195/CTr-UBND của UBND tỉnh về phát triển vùng kinh tế động lực giai đoạn 2016 - 2020; chủ động lồng ghép các mục tiêu, nội dung Nghị quyết số 05-NQ/TU với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện/thành phố. Tập trung phát triển các mô hình sản xuất như mô hình sản xuất rau nhà lưới, chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn tại huyện Vị Xuyên; mở rộng diện tích và áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật VietGAP vào trồng cam tại huyện Bắc Quang; sản xuất giống lúa chất lượng cao tại huyện Quang Bình; nuôi cá lồng trong lòng hồ thủy điện, mở rộng diện tích trồng cây dược liệu (cây hồi, cây nghệ) tại huyện Bắc Mê; phát triển đô thị, du lịch tại thành phố Hà Giang. Tiếp tục triển khai thực hiện 34 nội dung phân cấp, ủy quyền, tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước, rút ngắn thời gian giao dịch cho người dân, doanh nghiệp.

9. Về thực hiện một số cơ chế, chính sách theo Nghị quyết HĐND Tỉnh

- Về cơ chế, chính sách theo Nghị quyết số 209/2015/NQ-HĐND và Nghị quyết sửa đổi, bổ sung số 86/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về khuyến khích phát triển nông nghiệp hàng hóa. Trong 9 tháng đầu năm có đã giải ngân được 157,8 tỷ đồng cho 1.610 hộ. Lũy kế từ khi thực hiện chính sách đến nay đã giải ngân được 579,5 tỷ đồng cho 6.643 hộ; số lãi ngân sách thanh toán là 56,2 tỷ đồng. Qua quá trình triển khai thực hiện, các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng vốn đúng mục đích, tập trung vào các lĩnh vực trồng và chế biến chè, dược liệu, trồng cam, chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê…, bước đầu phát huy hiệu quả, mang lại thu nhập cao hơn cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.

- Về thực hiện Nghị quyết số 35/2016/NQ-HĐND ngày 21/7/2016 của HĐND quy định một số chính sách khuyến khích phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Đã chủ động hướng dẫn các đơn vị, dự án đủ điều kiện lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ để mở rộng kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách du lịch. Trong 9 tháng đã có  69 tổ chức, cá nhân được thụ hưởng chính sách với tổng số tiền hỗ trợ là 4,22 tỷ đồng. Lũy kế  từ khi thực hiện chính sách đến nay đã có 107 chức, cá nhân được thụ hưởng chính sách, tổng tiền hỗ trợ là 6,52 tỷ đồng.

- Về Nghị quyết 120/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 thay thế Nghị quyết 206/2015/NQ-HĐND ngày 10/12/2015 của HĐND tỉnh Hỗ trợ phát triển kinh tế biên mậu trên địa bàn tỉnh. Đã ban hành Quyết định số 19/2018/QĐ-UBND ngày 06/7/2018 của UBND tỉnh Quy định chi tiết thực hiện Nghị quyết. Hiện đang tổ chức tuyên truyền, phổ biến đến các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đăng ký đề nghị hỗ trợ.

 

 

 

Bài viết khác
Copyright 2012 xuctiendautuhagiang.gov.vn. All Rights Reserved